0979.780.333

Ổ cứng là một thành phần quan trọng trong máy tính cũng như hệ thống máy chủ (server). Tất cả dữ liệu của người dùng đều được lưu trữ trong ổ cứng và chúng luôn được truy xuất thường xuyên. Đối với máy chủ thì ổ cứng lại càng quan trọng hơn, vì nó sẽ lưu trữ một dữ liệu thông tin rất lớn và yêu cầu độ an toàn cao nhất có thể. Vì thế, các nhà sản xuất phần cứng luôn không ngừng tìm tòi và nâng cao chất lượng cho các ổ cứng, đặc biệt là các ổ cứng HDD máy chủ (server).

HDD Server là gì

HDD máy chủ (server) là một thiết bị lưu trữ có dung lượng lớn. Nó cũng giống như các HDD dành cho PC nhưng nhu cầu sử dụng cho server đòi hỏi phải tăng dung lượng bộ nhớ, nên một server có thể được gắn nhiều HDD tùy theo nhu cầu sử dụng. Một HDD máy chủ tốt sẽ giúp cải thiện rất nhiều về khả năng truy xuất dữ liệu, bảo vệ dữ liệu, kích cỡ cũng như tuổi thọ của server.

Cấu trúc của ổ cứng HDD máy chủ

Ổ HDD máy chủ (server) được tạo nên từ nhiều thành phần, chi tiết và mỗi chi tiết lại đảm nhận một vai trò khác nhau. Trong đó có các thành phần chính sau:

Các đĩa từ: được làm bằng nhôm, thủy tinh hoặc sứ, được chế tạo đặc biệt giúp HDD máy chủ có khả năng lưu trữ tốt, an toàn và không bị nhả từ như các thiết bị đọc ghi bằng từ tính khác.

Moto trục quay: là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định tốc độ của HDD máy chủ. Ngày nay có nhiều HDD máy chủ có tốc độ quay rất cao.

Kỹ thuật hãm động (dynamic braking): được sử dụng để dừng đĩa từ lại khi ngắt điện cũng là một điều hết sức quan trọng trong một HDD máy chủ. Do động cơ của HDD có tốc độ quay rất cao, nếu việc dừng đĩa lại không được thực hiện tốt sẽ làm mặt đĩa từ bị xước.

Đầu đọc: Được sử dụng để đọc hoặc ghi dữ liệu dưới dạng từ hóa trên bề mặt đĩa từ. Số đầu đọc ghi luôn bằng số lượng mặt từ của đĩa cứng.

Cần di chuyển: có nhiệm vụ di chuyển đầu đọc, ghi  theo phương song song với mặt đĩa ở một khoảng cách nhất định. Cần di chuyển có thế hoạt động theo hai phương pháp sử dụng động cơ bước để truyền chuyển động hoặc sử dụng cuộn cảm để di chuyển cần bằng lực từ.

Mạch điều khiển: có nhiệm vụ điều khiển động cơ và sự di chuyển của cần di chuyển.

Mạch xử lí dữ liệu: dùng để xử lí dữ liệu đọc, ghi của HDD máy chủ.

Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer) là nơi lưu trữ dữ liệu tạm thời trong quá trình đọc/ghi dữ liệu.

Cổng giao tiếp: để kết nối với máy tính

Khe cắm nguồn: để cắm vào nguồn máy chủ

Ngoài các thành phần chính kể trên, HDD máy chủ còn có một vỏ đĩa cứng. Tuy không tham gia và quá trình lưu trữ dữ liệu nhưng nó có tác dụng định vị các linh kiện, chịu đựng sự va chạm. Trên vỏ bảo vệ có các lỗ thoáng đảm bảo cản bụi và cân bằng áp suất giữa môi trường bên ngoài và môi trường không khí có độ sạch cao bên trong.

HDD server có những chuẩn giao tiếp nào?

Có lẽ nhiều người không quen với thuật ngữ HDD server hay SSD server nhưng khi nói đến ổ cứng thì ai cũng biết, HDD là một tên gọi khác của ổ cứng. HDD là phần đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc vận hành máy tính bởi mọi dữ liệu điều được lưu trữ trên HDD. Nếu có một ngày HDD đột ngột bị hư chắc chắn sẽ vô cùng tồi tệ vì mọi dữ liệu, hình ảnh đều sẽ mất hết và rất khó phục hồi. Đặc biệt trong môi trường các doanh nghiệp sử dụng hệ thống server nếu đột ngột bị hacker xâm nhập hay HDD bị hư vấn đề sẽ vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Vậy lựa chọn HDD cho máy tính là cực kì quan trọng, đặc biệt là chọn HDD server.

HDD server có gì khác so với HDD dành cho PC?

HDD (Hard Disk Drive) là dạng ổ cứng truyền thống, dữ liệu được lưu trữ trên bề mặt các phiến đĩa tròn (Platters) làm bằng nhôm, thủy tinh hoặc gốm được phủ vật liệu từ tính. Ngay trung tâm của ổ đĩa là một động cơ quay (Spindle), giữ nhiệm vụ đọc/ghi dữ liệu. Các nhà sản xuất đã sử dụng các bộ điều khiển truyền động (Actuator) và kết hợp với các tay truyền động (Actuator Arm) điều khiển đầu đọc nhỏ (Slider and Read/Write Head) và các cơ này được điều khiển bởi một bộ vi mạch nhỏ ở ngoài, chúng điều khiển đầu đọc ghi đúng vào vị trí trên các đĩa từ (platters) khi đĩa đang quay ở tốc độ cao, đồng thời giải mã các tính hiệu từ tính thành dữ liệu mà máy tính có thể hiểu được. Đó là tổng quan về HDD thường dành cho PC (máy tính cá nhân) vậy còn HDD dành cho server thì có gì khác biệt?

Thật ra giữa HDD dành cho PC và HDD server  đều có chức năng dùng để lưu trữ dữ liệu, là bộ nhớ ngoài quan trọng nhất của máy tính. Nó có nhiệm vụ lưu trữ hệ điều hành, các phần mềm ứng dụng và các dữ liệu của người dùng. Tuy nhiên do nhu cầu sử dụng giữa PC và Sever nên có một số điểm khác nhau.

HDD dành cho server (máy chủ)

Do đối tượng sử dụng HDD server đa số là các doanh nghiệp, tổ chức nên yêu cầu HDD server phải tăng dung lượng bộ nhớ, một server có thể gắn được nhiều HDD tùy theo nhu cầu sử dụng. HDD máy chủ tốt phải giúp cải thiện rất nhiều về khả năng truy xuất dữ liệu, bảo vệ dữ liệu, kích cỡ cũng như tuổi thọ của server.

Ngoài ra, khác với các loại ổ cứng HDD của máy PC, thường có chuẩn giao tiếp IDE, SATA I, SATA II với tốc độ vòng quay đạt con số cao nhất 7200RPM và tốc độ đạt 300MB/s, các HDD dành cho Server hoạt động trên chuẩn giao tiếp SCSI hay SAS (Serial Attached SCSI) có băng thông cao hơn (600MB/s) và sở hữu một tốc độ vòng quay cao hơn gần 30% (10.000RPM), một số ổ SAS mới còn đạt được con số 15.000 RPM giúp tăng tốc tối đa tốc độ đọc/ghi dữ liệu và khả năng kết nối nhiều thiết bị SAS khác trong hệ thống mạng LAN của các tổ chức, doanh nghiệp.

HDD server có những chuẩn giao tiếp nào?

Hiện nay khi nhắc đến các chuẩn giao tiếp của HDD server  thì có 2 loại chuẩn phổ biến và mạnh nhất hiện nay là SATA và SAS. Trước khi SATA và SAS ra đời, SCSI (Small Computer System Interface) là chuẩn giao tiếp được dùng đầu tiên trong Server (máy chủ).  Kế đến là PATA (Parallel ATA) – chuẩn giao tiếp truyền dữ liệu theo dạng song song. Và hiện nay là SATA (Serial Advanced Technology Attachment) – chuẩn giao tiếp truyền dữ liệu theo dạng nối tiếp và SAS (Serial Attached SCSI) – chuẩn giao tiếp có tốc độ truyền tải dữ liệu nhanh nhất hiện nay. Nếu đang cân nhắc chọn chuẩn giao tiếp cho HDD server thì nên lựa chọn giữa SATA hay SAS để đem lại hiệu quả công việc cao nhất.

Các chuẩn giao tiếp thường dùng như SCSI, SATA, SAS

SATA là chuẩn giao tiếp với công nghệ hiện tại dùng để kết nối một HDD hoặc SSD với phần còn lại của máy tính. SATA truyền dữ liệu theo dạng nối tiếp được tạo ra nhằm thay thế cho PATA – chuẩn kết nối truyền dữ liệu song song.

Như chúng ta đã biết, ưu điểm của việc truyền tải song song – PATA  so với truyền tải nối tiếp SATA chính là tốc độ cao, cùng một lúc có thể gửi đi nhiều dữ liệu. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của nó chính là vấn đề tạp âm nhiễu. Do có nhiều dây dẫn cùng được sử dụng, nên dây này sẽ gây nhiễu sang dây khác. Để khắc phục nhược điểm này của PATA nên SATA được thiết kế chỉ với một dây dẫn truyền dữ liệu và một dây tiếp nhận dữ liệu nên sẽ hạn chế được tối đa vấn đề về tạp âm nhiễu.

Với cấu tạo ít dây hơn so với những chuẩn giao tiếp cũ, chuẩn giao tiếp SATA đã giúp ích rất nhiều cho khía cạnh tỏa nhiệt của máy tính. Không gian trống nhiều sẽ giúp cho không khí lưu thông dễ dàng hơn.

Chuẩn giao tiếp SATA đã được dùng phổ biến trong vòng 10 năm trở lại đây. Bởi xét về mục đích cũng như giá cả thì nó phù hợp với đại đa số người tiêu dùng.

Sự khác nhau giữa chuẩn giao tiếp SATA và SAS

SAS là một chuẩn giao tiếp mới, ra đời sau SATA nhưng nó lại mang nhiều tính năng vượt trội hơn. SAS là tiến trình phát triển song song SCSI vào một điểm đến điểm giao tiếp nối ngoại vi, trong đó các bộ điều khiển được liên kết trực tiếp vào ổ đĩa. SAS cải tiến hiệu suất hơn so với SCSI truyền thống. Nó cho phép nhiều thiết bị (hơn128 thiết bị) với các kích cỡ khác nhau được kết nối đồng thời vào cáp mỏng hơn và lâu hơn.

SAS có thể quản lý những file dữ liệu khổng lồ lên đến 32.768 biến và số lượng bản ghi phụ thuộc vào kích cỡ của đĩa cứng. Ưu điểm này có thể làm đơn giản hoá khi tổ chức, xử lý và phân tích một khối lượng lớn dữ liệu vì dữ liệu chỉ chứa trong một file.

Ngoài mục đích lưu trữ, SAS còn rất mạnh trong lĩnh vực quản lý dữ liệu, cho phép người sử dụng thao tác dữ liệu một cách dễ dàng. Với sức mạnh của mình, SAS còn có thể làm việc với nhiều file dữ liệu cùng một lúc, điều này giảm đi tính phức tạp trong chuẩn bị dữ liệu đối với những nhiệm vụ phân tích đòi hỏi phải làm việc với nhiều file dữ liệu cùng một lúc.

Tuy nhiên, số lượng người sử dụng chuẩn giao tiếp SAS còn hạn chế so với chuẩn giao tiếp SATA bởi giá thành sản phẩm cao. Ngoài ra, để tận dụng được hết sức mạnh của chuẩn giao tiếp SAS  thì người dùng phải mất khá nhiều thời gian để học và hiểu được cách quản lý dữ liệu của chuẩn SAS và nhiều nhiệm vụ quản lý cầu kì khác.

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
shares